Công
Đức In Tạo Kinh Tượng
(Hoằng Nhất Thích Diễn Âm dạy đại cương, Hoằng
Thật Vưu Tích Âm diễn dịch)
Trích Ấn Quang Pháp Sư Tục Biên
Trích Ấn Quang Pháp Sư Tục Biên
Chúng sanh
trầm luân trong biển khổ, ắt phải nhờ vào thuyền từ cứu tế, sau này sẽ có lúc
được độ thoát. Phật pháp hóa đạo trong thế gian hoàn toàn cậy vào kinh – tượng
để duy trì hầu truyền đăng cho vô tận đời sau. Do bởi lẽ ấy, phàm những ai có thể
phát tâm đối với kinh Phật, tượng Phật, hoặc khắc, hoặc chép, hoặc tạc, hoặc
đắp, hoặc thếp vàng, hoặc vẽ vời; các cách in tạo như thế hoặc cạn kiệt tâm
mình, một mình ra sức lo liệu, hoặc vì sức mình chẳng đủ bèn khuyên rộng rãi
mọi người, hoặc lưu thông [những kinh tượng] người khác đã in tạo để cúng
dường, hoặc thấy người khác vừa in tạo bèn tán trợ hoặc hoan hỷ thì công đức
của những người ấy đều thật rộng, thật lớn, chẳng thể dùng toán số tầm thường
để tính toán được. Vì sao vậy? Phật lực vô biên khéo dẹp các khổ; chúng sanh vô
lượng nghe pháp khó lắm. Nay những người gây công đức in tạo ấy khai thông cầu
pháp, hoằng dương sự giáo hóa rộng lớn, thí rộng khắp bè báu, giúp khắp những
ai hữu duyên. Tâm lượng ấy rộng lớn quả thật chẳng thể nghĩ bàn. Vì vậy, công
đức ấy cũng rộng lớn chẳng thể nghĩ bàn. Kính đem những lời vốn do kinh dạy,
nêu đại lược mười lợi ích lớn, kính cẩn dùng lời văn nông cạn để lần lượt trình
bày như sau:
1) Các
thứ tội lỗi đã tạo trước đây hễ nhẹ bèn lập tức tiêu diệt, nặng thì cũng chuyển
thành nhẹ: Tham – sân – si là chủng tử tạo oan khiên, thân – khẩu – ý
là cơ quan để làm ác. Đêm thanh tự kiểm điểm, đời này đã phạm nhiều tội chẳng
thể tính được. Nếu gộp những tội đã phạm trong nhiều đời thì tội nghiệp đã tạo
nhiều như núi băng nơi xứ lạnh, chẳng thể không sợ hãi! Tuy nhiên, tội tánh vốn
không, nếu dấy động tâm cơ chuộc tội, thệ nguyện lưu thông thánh kinh, trang
nghiêm tượng Phật, thì núi băng tội ác một khi gặp phải huệ nhật lẽ nào chẳng
tiêu giảm không dấu vết ư?
2) Thường
được cát thần (thiện thần) ủng hộ, hết thảy tai nạn ôn dịch, nước, lửa, giặc
cướp, đao binh, lao ngục đều chẳng bị hứng chịu: Những thứ ác báo trong
nhân gian không gì chẳng phải là do ác nghiệp đã tạo trong nhiều đời. Thiện lực
trong một niệm có thể xoay chuyển được lòng trời. Tu hành thiện nghiệp phải bắt
đầu từ chuyện thuận tiện, dễ làm nhất là công đức thù thắng do in tạo kinh
tượng mà làm, sẽ cảm động những vị thần tốt lành nên được họ hộ vệ. Điều này
quả thật có mối quan hệ lợi ích lẫn nhau. Bởi lẽ dù là thần đạo hay thiên đạo,
nói theo Phật pháp, đều bị túc nghiệp sai sử, chưa thoát khỏi cái nhân khổ luân
chuyển bao kiếp. Do vậy, khi đức Như Lai thuyết pháp thường có vô số thiên thần
cung kính ủng hộ. Khi ngài A Nan kết tập kinh, tứ đại thiên vương nâng án. In
tạo kinh tượng là chuyện chư thiên long thần hoan hỷ phi thường. Do công đức
này cảm được những vị thần tốt lành thường ủng hộ cho. Hết báo thân này lìa các
tai ách. Đây là chuyện phải như vậy chứ không phải nhờ may mắn [mà được cát
thần ủng hộ] đâu!
3) Oán
đối đời trước đều được lợi ích nơi pháp, được giải thoát, vĩnh viễn tránh khỏi
nỗi khổ tầm thù báo phục: Hết thảy các thứ hành vi ngang ngược kết oán
như tranh giành, ghen ghét, dối trá, vu hãm, cướp đoạt, tàn sát… trong thế gian
không gì chẳng bắt nguồn từ ý niệm tự tư tự lợi. Phật pháp lấy phá trừ Ngã Chấp
làm công trình bậc nhất để cứu khổ, gột sạch nạn. In tạo kinh tượng lợi ích
khắp nhân gian, là công đức pháp thí chẳng thể nghĩ bàn, ảnh hưởng rất rộng.
Một giọt mưa pháp thừa sức dập tắt lửa sân oán đối nhiều đời, hóa thù thành ân,
chuyển họa thành phước, quyền ấy có bao giờ chẳng do chính ta thực hiện?
4) Dạ-xoa,
ác quỷ chẳng thể xâm phạm. Rắn độc, cọp đói chẳng làm hại được: Hạnh
xấu keo tham là cái nhân sâu xa khiến đọa lạc trong quỷ đạo. Lửa sân vô minh là
điềm gây nên tai ương độc trùng. Kết oán nhiều đời, tầm thù trăm kiếp. Ác duyên
chưa chín muồi, mặc ý tiêu dao; đến khi cơ hội đã tới, nhờ ai giải cứu? Quỷ mị
xâm hại, cọp rắn bức bách. Oan nghiệt do mình tự gây, chẳng phải là chuyện ngẫu
nhiên. Người tu kinh sợ, in tạo kinh tượng, hành sám hối tội sẵn. Do vậy, dù có
ác duyên cũng đều tiêu trừ được. Nếu lâm vào hiểm địa liền hóa thành đường bằng
phẳng.
5) Tâm
được an ủi, ngày không hiểm sự, đêm không ác mộng, vẻ mặt tươi sáng, khí lực
sung mãn, việc làm tốt lành, thuận lợi: Trần thế đông người, mười phần
có đến bảy tám phần gặp cảnh kinh hãi, ưu phiền, nghi ngờ, buồn bã, áo não, oán
hận, thống khổ. Trong một đời chúng ta, trong mười phần có đến bảy tám phần lâm
vào cảnh kinh hãi, ưu phiền, nghi ngờ, buồn bã, áo não, oán hận, thống khổ. Ấy
là vì chấp ngã, những gì ở ngoài ta đều đứng vào vị trí đối lập, một mình kháng
cự mọi người, nguy ngập hết sức. Huống chi dục tâm khó thỏa giống như hang sâu.
Vô sự lại tự khuấy rộn mình, không gió cũng nổi sóng. Đấy chính là lý do “hình
là đầm tội, thân là gốc khổ” vậy. Phật pháp khéo diệt các gốc khổ, những
người in tạo kinh tượng sẽ được đượm pháp vị mà thông sáng, hoặc ngầm được gia
bị trở thành thông suốt, nhanh lẹ, các chướng tiêu sạch, tâm yên, thần khỏe,
thân sắc tươi nhuận là chuyện chắc chắn vậy!
6) Chí
tâm phụng pháp, dẫu không mong cầu tự nhiên cơm áo dư dật, gia đình hòa mục,
phước thọ dài lâu: Cư xử với người, thấy biết chỉ một niềm chân thật,
hễ có việc gì cần làm bèn làm ngay, không suy tính, không mong cầu. Phát tâm
thật chân thành, thiết tha, vận dụng hết sức lực, tự nhiên thành tựu thật cao
trỗi. Đối với việc in tạo kinh tượng, chí thành ngút trời, người chí tâm phụng
pháp thực hiện bằng lòng chân thiết khẩn khoản như thế, dẫu chẳng tính đến công
đức mà công đức đạt được quả thật không hạn lượng. Ở đây chỉ nói lên một phần
phước thế gian người ấy đạt được mà thôi, tự nhiên mỗi một điều đều đạt đầy đủ,
không chút khiếm khuyết. Nếu lại có người tâm ôm hy vọng rồi mới làm điều
thiện, do phát tâm không chân thiết, kết quả liền nhỏ nhoi, mỏng manh, ấy là
điều có thể đoan chắc. Tuy nhiên, một niệm lành, một đồng nhỏ nhặt đều chẳng
luống uổng, đều có vô lượng quả thù thắng. Ví như một hạt thóc gieo xuống đất
màu mỡ, một biến thành trăm, sau năm lần biến đổi, bèn hóa thành trăm vạn
triệu. Người tạo công đức hoằng pháp há chẳng thể có kế sách lớn lao, không có
quyết tâm như vậy sao?
7) Lời
nói việc làm khiến trời người hoan hỷ, đến bất cứ đâu thường được nhiều người
dốc lòng thành yêu mến hâm mộ, cung kính lễ bái: Đời trước mang lòng
ganh ghét, thốt lời phỉ báng, nêu chuyện ác của người, bộc lộ chỗ dở của người,
thỏa ý một chốc, chết đi trầm luân trăm kiếp, thảm khổ muôn bề, chịu đủ hết
thảy ác báo. Một mai sanh trong nhân gian, nhân duyên xấu hèn, đi đến bất cứ
đâu đều bị chán ghét, làm bất cứ chuyện gì đều không kết quả. Nhưng người hoằng
dương Phật pháp đã gieo nhân lành từ đời trước, giữ tấm lòng báo ân, mang tâm
niệm lợi lạc mọi người, hoặc tịnh tam nghiệp tạo công đức chép kinh vẽ tượng,
hoặc bỏ ra nhiều tiền để làm công đức in kinh tạo tượng, sẽ đạt được phước thù
thắng chẳng thể tính lường. Hiện tại hết thảy mọi người kính yêu người ấy, vốn
là do công đức hoằng pháp trong đời trước mà ra. Sau này, hết thảy những người
khiến đại chúng vui mừng, kính trọng, quả thật cũng là do công đức hoằng pháp
trong hiện tại mà ra. Trồng cây gai được gai góc, trồng sen được ngó sen, mỗi
một hậu quả đều do mình gieo trồng vậy.
8) Ngu
chuyển thành trí, bệnh tật thành khỏe mạnh, khốn đốn chuyển thành hanh thông.
Làm thân phụ nữ thì đến khi báo hết, nhanh chóng chuyển thành thân nam:
Đời trước keo lận trong việc dạy dỗ, cũng như phóng túng buông lời báng pháp,
mặc sức hủy báng người có đức thì tội nặng trầm luân ắt phải chịu về sau. Lại
còn bị quả báo nhiều kiếp ngu xuẩn, vô tri. Đời trước vì bụng miệng tham lam
nên mặc sức giết hại muông thú, chim chóc, cũng như từng làm phường chài, đồ
tể, thợ săn, đầu bếp, cũng như từng nắm quyền chế tạo hung khí, hỏa khí, độc
dược v.v… trợ giúp cho sát nghiệp hung ác của người khác được thành tựu thì sau
khi tội nặng trầm luân đã trả hết, lại còn phải bị quả báo nhiều kiếp tàn phế,
bệnh ngặt. Đời trước tham dục không nhàm, chỉ biết bóc lột người để béo thân
mình, keo tiếc tàn tệ, chẳng chịu mở túi tiền châu cấp thì sau khi trả hết tội
nặng trầm luân, lại còn bị quả báo nhiều kiếp bần cùng khốn khổ, tai ách. Đời
trước tri kiến hẹp hòi, mang tâm dua vạy, xảo ngôn bóng bẩy, giấu diếm, thêu
dệt dối trá, lựa dịp đưa đẩy, đo lường thiếu hụt, chần chừ, lười nhác, dựa dẫm
thành tánh, phiền não cấu nặng nề, oán hận, phẫn nộ dễ phát, tâm đố kỵ sâu dầy,
tình dục lừng lẫy thì sau khi trả hết tội nặng trầm luân, lại còn phải nhiều
kiếp mắc báo làm thân nữ. Chỉ có Phật pháp khéo cởi gỡ các ràng buộc. Biển khổ
vô biên, quay đầu lại là bờ, núi tội muôn nhận[1], dứt niệm liền
không. Do vậy, nhờ công đức vô thượng của việc kiền thành lưu truyền kinh Phật,
trang nghiêm tượng Phật, tội tích lũy từ quá khứ tự nhiên giảm trừ, phước thù
thắng trong vị lai ngầm được viên mãn thành tựu.
9) Vĩnh
viễn lìa ác đạo, thọ sanh trong thiện đạo. Tướng mạo đoan chánh, thiên tư siêu
việt, phước lộc thù thắng: Hết thảy hàm linh xả thân, thọ thân, qua lại
trong sáu đường như bánh xe quay. Ngàn đời vạn kiếp thường trong cảnh mộng, làm
thiện không ngừng, tội hết ắt thăng lên. Kiêu căng phóng túng quên gốc, gieo
nhân đọa lạc. Làm ác lắm nỗi, phước hụt, thọ tổn trăm ngàn vạn lần, ác báo thật
đáng kinh hãi! Địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh đọa trong ba đường ác, muôn kiếp
trầm luân. Khó được dễ mất, thân người như vậy đó! Tạo nghiệp Thập Thiện, tu
hành Ngũ Giới, sanh trong trời người, túc phước chẳng nhẹ! Chư Phật Như Lai
thương lẫn xót đều sâu, rộng thuyết pháp cho, đầu tiên chú trọng việc nhiếp
tâm, chánh niệm vô tác, lìa cấu vượt trần. Vì thế, in tạo kinh tượng thì khế
hợp tâm Phật; chỉ mang ý nguyện nhỏ nhặt này đã gieo nhân phước. Từ đấy về sau,
làm bậc tái lai, các phước trọn đủ, lỗi lạc siêu quần.
10) Có
thể làm các thứ thiện căn cho hết thảy chúng sanh, dùng tâm chúng sanh làm đại
phước điền, đạt vô lượng quả thù thắng. Sanh ở nơi đâu cũng thường được thấy
Phật nghe pháp, mãi cho đến khi Tam Huệ rộng mở, tự chứng Lục Thông, mau được
thành Phật. Thời đức Phật có những người trong một thành khó thể nhiếp
hóa. Phật nói những người ấy có duyên với ngài Mục Liên. Do đó bèn sai ngài Mục
Liên qua đấy. Dân chúng toàn thành quả nhiên đều dốc lòng nhận lãnh sự giáo
hóa. Các đệ tử hỏi Phật về nhân duyên, Phật dạy: “Trong kiếp xưa, Mục Liên
từng làm tiều phu, một ngày nọ lên non đốn củi, kinh động vô số ong bay tán
loạn, thế thật hung hăng toan đến xâm phạm. Mục Liên răn chúng đừng hành hung,
lại còn khuyên nhủ: ‘Các người đều có Phật tánh, mai này nếu ta thành đạo, sẽ
độ các ngươi’. Nay dân chúng trong thành ấy chính là hậu thân của bầy ong khi
đó. Do Mục Liên từng phát một niệm độ hết thảy nên có duyên với họ”. Gieo
nhân trong nhiều kiếp trước, một mai cơ duyên chín muồi, thâu được quả thù
thắng chẳng thể nghĩ bàn này. Do đây mà thấy, chúng ta trong nhiều đời trải qua
nhiều thời đại, nơi nơi từng tiếp xúc vạn loại, mỗi mỗi đều có duyên với ta.
Tâm địa hết sức linh diệu của mỗi một chúng sanh đều có thể làm phước điền vô
thượng cho ta và người cùng được lợi. Ta đã gieo rắc hạt giống phước đức trong
tâm điền của mỗi một chúng sanh thì mỗi một chúng sanh đều có đại duyên với ta.
Trong tâm điền của hết thảy chúng sanh đã kết vô lượng quả phước to lớn. Tuy nói
là [thành tựu] quả phước lớn lao vô lượng đời không hết, nhưng nói đó chính là
gieo nhân cho phẩm vị diệu trang nghiêm trong thời kỳ đạo quả thành thục cũng
không phải là không đúng. Vả nữa, chúng ta trước hết phải đối trị sao cho tâm
điền của chính mình thanh khiết để tiếp nhận vô thượng pháp bảo của mười phương
tam thế chư Phật Như Lai, tạo thành chủng tử để thoát thai đổi cốt, chuyển phàm
thành thánh. Thân ta có đại nhân duyên với mười phương tam thế chư Phật Như
Lai. Mỗi một công đức thù thắng nơi biển nguyện của chư Phật đều nhiếp trong
tâm ta, nguyện của ta và nguyện của Phật không sai biệt. Từ nguyện của chư Phật
cùng nhiếp thọ, nhân trùm biển quả, quả thấu nguồn nhân, vô biên phước thù
thắng được kết tạo trong chân tâm in tạo kinh tượng hoằng pháp lợi sanh ngày
hôm nay. Phổ nguyện hết thảy hiện tại, vị lai hữu duyên khéo tìm phước điền,
khéo kết thắng duyên, chớ mặc cho diệu dụng quang âm cực hảo hiện tiền như nước
cuồn cuộn trôi qua trước mắt, chảy qua dưới chân.
Cơ Hội In Tạo
Kinh Tượng
Công đức do in tạo kinh tượng đã lược thuật như trên. Nhưng khi
nào, chỗ nào thích hợp để thực hiện hành động gieo phước này? Đã riêng nghiên
cứu cho tiện việc tận lực làm, nay kính lược thuật như sau:
1) Chúc
thọ: Sanh vốn vô sanh, vô sanh mà sanh. Tuổi thọ của Pháp Thân vốn không có
hạn lượng. Huyễn thân hiện tại vốn do nghiệp báo mà có. Báo hết liền diệt,
chẳng khác gì hoa Đàm (Udumbara) một lần hiện, thọ bao nhiêu mới đủ? Nay vì tùy
thuận thế tục thường tình, bèn mở cửa phương tiện chúc thọ. Phàm trong nhà
mình, hoặc vì người trưởng thượng, hoặc vì người ngang hàng, hoặc vì bản thân,
lúc cử hành lễ chúc thọ, chớ nên sát sanh đãi khách, lãng phí tiền bạc, lầm lạc
tạo oán nghiệp, cũng chớ tham luyến hư danh chẳng đáng để coi là khinh hay
trọng, dâng văn, hiến thơ, tiếp nhận những thứ xưng tụng quá mức. Soạn những
thứ văn chương hư giả ấy, đối với đại chúng chính là dối trá, thêu dệt, tự hỏi
lòng mình chắc thẹn mướt mồ hôi! Do vậy, không gì tốt bằng bỏ sạch hết thảy lề
thói đời thường ưa chuộng, theo đuổi việc ấn tạo kinh tượng (có sức thì khắc
kinh, tạo tượng; không sức thì chép kinh, vẽ tượng). Trên thì để báo bốn ân
nặng, dưới cứu khổ tam đồ. Đã đạt được vô lượng phước khánh, còn lưu lại làm kỷ
niệm vĩnh viễn. Hành động thù thắng này hàng cư sĩ được trọng vọng càng nên dốc
lòng đề xướng, để lại gương tốt cho nhiều người nhìn vào. Nếu hàng thân thích
bằng hữu cử hành lễ khánh chúc cũng nên khuyên họ làm theo cách này để tạo
phước thù thắng. Đôi bên sẽ đạt được công đức chẳng thể tính lường được!
2) Ăn
mừng: Một niệm vọng động khởi lên dục ái. Từ trong cái vốn là không, huyễn
hiện sắc thân. Suốt cả cuộc đời chỉ thấy trăm nỗi khổ chen nhau nung nấu, các
oán quẩn quanh bức bách. Người nghe pháp tỉnh giác mới hổ thẹn đau khổ không
xuể, nào có gì đáng gọi là vui. Chồng vợ, cha con, không gì chẳng do nợ cũ lôi
kéo, trói buộc. Yên vui, giàu có, sang quý, vinh hiển, toàn là cảnh giới chôn
sống. Trong tầm mắt của đấng Pháp Vương, đâu đâu cũng đáng buồn. Nay vì nhiều
bề lôi kéo, nên bèn mở ra cửa phương tiện cho việc ăn mừng. Phàm lúc trai cưới
vợ, gái lấy chồng, sanh con đẻ cái, lúc được thăng tấn chức vị, lúc khánh thành
nhà mới, khai trương công ty, cửa hàng, cửa tiệm, phàm lúc trăm việc kinh doanh
có lời, cũng như hết thảy các dịp thế tục coi là vui mừng, việc do nơi mình,
hãy nên giảm bớt số tiền ăn mừng, dùng số tiền đó làm công đức thù thắng khắc
kinh, tạo tượng. Như thân thích bằng hữu biểu lộ lòng chúc mừng hãy nên tuyên
bố sẵn ý chỉ đã định trước để họ biết mà làm theo. Đem nhiều chuyện thuộc bên
trong phạm vi hoằng pháp để nêu khuôn phép cho nhiều người. Từ giai cấp trí
thức mở ra phong thái này để thay đổi thói tục, khiến được hưởng ứng nhanh
chóng rộng sâu là điều có thể đoan chắc. Nếu là chuyện vui thuộc phía thân
thích, bè bạn cũng nên lựa dịp hướng dẫn để họ khỏi làm chuyện vô vị, giảm bớt
tiền của để làm chuyện mong mình lẫn người đều được lợi này.
3) Tránh
tai nạn: Thiên tai, nhân họa, không đời nào chẳng có. Tai ương chia thành
lớn nhỏ, đều là do biệt nghiệp và đồng nghiệp của hết thảy chúng sanh chiêu cảm
mà ra. Chữ Tai (災) tạo từ chữ Thủy (水) và chữ Hỏa (火), biểu thị chúng
xảy đến với khí thế mãnh liệt, một khi đã phát ra khó thể thâu thập. Tai ương
có nhiều loại khác nhau như đao binh, ôn dịch, đói kém, hoặc lao ngục, hoặc lo
bị lụt lớn khiến ruộng, nhà đều bị ngập chìm, trôi mất. Nếu đại địa rung nứt
thì thành ấp bị sụp đổ. Ngoài ra, hết thảy tất cả phong tai, hỏa tai hủy diệt,
cũng như hết thảy chuyện có kết quả bi thảm đột ngột chẳng thể dự phòng được,
đều gọi chung là tai họa! Mắt nhìn tâm kinh hãi. Nghĩ đến hoạn nạn phải dự
phòng. Luận về phương cách tránh né thì chẳng thể trong một ngày là xong. Nay
vì làm lợi ích hết thảy hữu tình nên đặc biệt mở ra cửa phương tiện phòng tránh
tai ương: Bất luận sống gần núi, gần nước, hay sống trên đồng bằng, tất cả
những thứ nhân và cảnh sanh ra những tai ách đặc biệt lạ lùng, cũng như đao
binh, giặc cướp, dịch lệ, hỏa hoạn, lao ngục, cùng là hết thảy tai họa do oán
đối nhiều đời tầm thù báo oán, hoặc vì cha mẹ, sư trưởng, và các quyến thuộc cùng
với thân thích bằng hữu cầu đảo tránh khỏi tai họa, hoặc vì hết thảy chúng sanh
cùng sống trong cõi đời phát tâm đại từ bi, thay họ cầu đảo khỏi bị tai họa,
hoặc vì hết thảy chúng sanh trong tứ sanh lục đạo hiện tại, vị lai phát tâm Đại
Bồ Đề, thay họ cầu đảo tránh tai họa thì biện pháp thực tế có hiệu quả thù
thắng nhất là nên lấy việc lưu truyền kinh Phật, trang nghiêm tượng Phật làm
hành động tốt đẹp bậc nhất. Vì lẽ nào vậy? Do mười phương tam thế chư Phật nghĩ
thương chúng sanh vậy. Vì tai ách trong tam giới chỉ có sức oai thần của Phật
mới có thể khéo tiêu trừ được. Vì do người hoằng pháp dốc lòng thành và do thâm
tâm hoằng nguyện từ bi cứu bạt của chư Phật ngầm cảm thông vậy.
4) Cầu
nguyện: Nếu động chẳng ngừng thì nước lặng đều hóa thành sóng cuộn, nếu
tĩnh lặng chẳng khuấy đảo thì sóng gió trở thành nước lặng. Tướng nước như thế
đó, tâm cảnh cũng giống như vậy. Bất biến tùy duyên, đương thể của Chân Như trở
thành sanh diệt. Tùy duyên bất biến, đương thể của sanh diệt chính là Chân Như.
Hễ mê thì mộng tưởng điên đảo, chỗ tiếp xúc bèn thành chướng ngại. Hễ ngộ thì
rốt ráo Niết Bàn, thanh lương ngay khi đó. Trong đạo tràng bất động, vốn sẵn có
hết thảy, nào khiếm khuyết gì để phải cầu cho có? Nay vì khuyến tấn nhiều
người, nên đặc biệt mở ra cửa phương tiện cầu đảo này. Phàm vì chính mình và vì
lục thân quyến thuộc lo sợ tuổi thọ ngắn ngủi mà cầu tăng thọ, vì khó có con
nối dòng mà cầu sanh nở, cho đến cầu tật bệnh mau được lành, cầu gia trạch bình
yên, cầu cởi gỡ oán thù, cầu doanh nghiệp thuận lợi, cầu hết thảy chuyện làm
được như ý (nhưng những hành vi thương tổn đạo đức và những nghề nghiệp chẳng
thích hợp với Phật đạo đều phải nên loại trừ ra), cầu đất nước hòa bình, cầu
thế giới hòa bình, cầu cho hết thảy chúng sanh trong pháp giới hồi tâm hướng
thiện, lìa các ma nạn, cho đến hết thảy những người nghe pháp cầu tăng trưởng
trí huệ, cầu chứng Niệm Phật tam-muội, cầu lúc lâm chung không có các khổ ách,
tâm chẳng điên đảo, vãng sanh Cực Lạc, hãy đều nên làm công đức chép kinh, in
kinh, tạo tượng, vẽ tượng này. Chí thành cầu đảo, rốt cuộc mỗi một việc gì đều
được thỏa nguyện.
5) Sám
hối: Trong bài Khuyến Phát Bồ Đề Tâm Văn của Tỉnh Am pháp sư có câu: “Đức
Thích Ca Như Lai ta lúc ban đầu mới phát tâm, do vì chúng ta nên hành Bồ Tát
đạo trải vô lượng kiếp chịu đủ các khổ. Lúc ta tạo nghiệp, Phật bèn buồn
thương, phương tiện giáo hóa, nhưng ta ngu si, chẳng biết tin nhận. Ta đọa địa
ngục, Phật càng đau buồn, muốn thay ta chịu khổ, nhưng do ta nghiệp nặng nên
chẳng thể cứu bạt. Ta sanh trong loài người, Phật dùng phương tiện dạy gieo
thiện căn, đời đời kiếp kiếp theo sát bên ta, tâm chưa tạm bỏ. Lúc Phật mới
xuất thế, ta còn trầm luân. Nay được thân người, Phật đã diệt độ. Tội gì mà
phải sanh nhằm đời Mạt Pháp, chướng nào chẳng thấy được thân vàng?” Đấm
ngực, gập mình tự hỏi, há còn chỗ nào để chẳng kinh hoàng, run sợ nữa ư! Nay vì
tiêu trừ tội chướng nên đặc biệt mở ra cửa phương tiện sám hối này. Tu trì giới
hạnh là một phương pháp tối thiết yếu mà chúng sanh đời Mạt dùng để vượt thoát
biển khổ sanh tử. Muốn tu giới hạnh hãy nên tham cầu nơi các pháp điển trong
Luật Tạng. Đệ tử tại gia hãy nên đọc kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, Tại Gia Luật
Yếu Quảng Tập, Ưu Bà Tắc Giới Kinh, Bồ Tát Giới Bổn Kinh Tiên Yếu, Phạm Võng
Kinh Hợp Chú, còn giới luật xuất gia thì chẳng thể ghi hết. Sau đấy mới hiểu rõ
hết thảy tội lỗi ở chỗ nào. Đối với những chuyện chẳng lành mình đã làm trước
kia tự hối sâu xa, muốn sám hối, mở cửa diệt tội, mở ra con đường đổi mới thì
lưu truyền kinh Phật, trang nghiêm tượng Phật là [phương cách] hữu hiệu nhất.
Lúc làm công đức này, chí thành sám hối để chuộc tội khiên, những nghiệp bất
thiện đã làm trước kia sẽ có thể tiêu diệt lập tức. Nếu sám hối thay cho người
khác thì dùng phương pháp này vẫn thích hợp.
6) Siêu
độ cứu bạt: Cây muốn lặng nhưng gió chẳng ngừng, con muốn phụng dưỡng nhưng
cha mẹ chẳng còn nữa! Những người làm con cái trong khắp thiên hạ muốn đáp tạ
ân cha mẹ dưỡng dục nhưng không biết làm thế nào, ôm nỗi buồn đau vô hạn. Nhưng
thân thể cha mẹ ta tuy đã diệt mất, vẫn còn có cái chẳng bị diệt mất cùng thân
thể, đó là vật gì vậy? Chính là linh tánh! Linh tánh ấy xả thân thọ thân, bị
túc nghiệp sai sử, chỗ nào nặng sẽ đọa vào chỗ ấy, khó tự làm chủ được! Tuần
hoàn qua lại tam đồ lục đạo từ kiếp này sang kiếp khác, trọn không có lúc ra.
Than ôi! Nhà lửa tam giới há nên lưu luyến! Lành thay, Liên Trì đại sư đã nói: “Cha
mẹ được lìa trần cấu thì đạo con mới thành tựu!” Do vậy, kẻ khéo báo ân cha
mẹ hãy thường kiền thành tu pháp xuất thế khiến cho cha mẹ sanh ra ta trong đời
này nhờ vào nguyện lực chẳng thể nghĩ bàn của ta để thoát lìa biển khổ sanh tử,
ấy là điều ta mong mỏi bậc nhất, và làm cho cha mẹ đã sanh ra ta trong trăm
ngàn kiếp hiện còn đang vướng mắc trong lục đạo chịu khổ vô lượng đều được nhờ
vào nguyện lực, phương tiện chẳng thể nghĩ bàn của ta mà thoát lìa biển khổ
sanh tử. Đó là điều mong mỏi bậc nhất. Do nghĩ đến thâm ân của cha mẹ nhiều đời
bèn nghĩ cách báo đáp triệt để. Do nghĩ cha mẹ nhiều đời trầm luân trong lục
đạo nên thấy chúng sanh trong lục đạo đều là cha mẹ, nghĩ lục đạo chúng sanh
khi chưa được độ hết liền thề chẳng thành Phật. Bất luận giác ngộ trước hay
giác ngộ sau, ai nấy đều có đại sự nhân duyên chưa báo đáp ân cha mẹ. Nay tìm
lấy một pháp thiển cận dễ hành nên đặc biệt mở ra cửa phương tiện siêu độ cứu
bạt này. Phàm gặp phải lúc cha mẹ vừa mất, hoặc kỷ niệm bốn mươi chín ngày sau
khi mất, kỷ niệm giỗ đầu cho đến đã mất mấy năm, kỷ niệm vô số chu niên, hoặc
nhằm ngày mất, hoặc nhằm sanh nhật [của người đã mất], hoặc minh thọ[2] mà kỷ niệm, đều
nên cử hành công đức in tạo kinh tượng. Đối với ông bà nội, ông bà ngoại cùng
hết thảy người ngang hàng, người vai vế nhỏ hơn, cũng nên làm công đức này để tạo
phước ngầm cho họ. Nếu lúc thân thích, bằng hữu mất cũng nên dùng loại công đức
hoằng pháp này để thay thế cho hết thảy lễ số vô ích. Công đức đạt được sẽ vô
hạn lượng!
Những điều
như trên vừa nói chẳng qua chỉ là nói đại khái. Ngoài những điều này, cơ hội
gieo phước chẳng thể kể trọn. Muốn hiểu trọn vẹn, hãy đọc nhiều kinh điển sẽ tự
biết.
Phương pháp in
tạo kinh tượng
1) Chép kinh:
Phàm các
kinh trong Đại Tạng và các luật, luận, cho đến trước tác của hết thảy đại đức
từ xưa đến nay: trường thiên, đoản văn, câu đối, đề từ, bài tụng, đều có thể
cung kính biên chép. Hoặc thương lượng với người thông đạt Phật pháp, châm
chước lượng định hết thảy cho thật ổn thỏa, tốt lành. Nếu chính mình chẳng thể
biên chép được, có thể nhờ người làm giùm.
Nếu tự mình chép được thì tự chép là hơn. Về cách chép thì không bó buộc phải
chú trọng tinh xảo, đẹp đẽ như thế nào, chỉ cần đàng hoàng, tề chỉnh, chớ nên
cẩu thả, nguệch ngoạc. Pháp sư Ấn Quang ở Phổ Đà Sơn nói: “Chép kinh nên như
tấn sĩ viết văn sách, mỗi một nét bút chớ có cẩu thả, gián đoạn. Lối chữ phải
tuân theo lối viết chánh thức[3]”. Sư lại nói: “Cổ
nhân viết một chữ, lễ ba lạy, đi nhiễu ba vòng, xưng danh hiệu Phật mười hai
câu”. Huấn dụ từ bi ân cần, khiến người xúc cảm sâu xa. Kính sao chép lại
để khuyên người thực hiện công đức chép kinh.
2) Vẽ
tượng:
Phàm tượng
Phật hay Bồ Tát đều có thể vẽ được, hoặc lớn, hoặc nhỏ, hoặc ngồi, hoặc đứng,
hoặc vẽ bằng mực, hoặc dùng màu vẽ đều được cả. Vẽ bao lớn, vẽ nhân vật như thế
nào, nên coi kỹ trong nội điển sẽ dễ hiểu được cách vẽ nhất. Phải giống như khi
học vẽ chưa có mảy may căn bản gì, hạ bút dè dặt, không hề buông tuồng. Đừng
khinh dễ mà vẽ, kẻo chuốc lấy tội lỗi khinh nhờn.
3) Khắc
kinh, in kinh:
Hoặc khắc
mộc bản, hoặc in bằng lối sắp chữ, hoặc thạch ấn, đều có thể châm chước lượng
định mà làm. Hoặc bỏ tiền thỉnh những kinh điển đã in xong từ những nơi phát
hành kinh, đem gởi tặng người hữu duyên để lưu truyền hoặc khuyến hóa rộng rãi.
Hoặc có lúc gặp người khác quyên góp thì bỏ tiền tán trợ, để tạo công đức thấy
nghe tùy hỷ, đều có thể gieo các thứ thiện căn, đắc đại lợi ích. Có loại giấy
bóng láng khiến mực bị nhòe, chớ dùng. Nếu tham tiền mà dùng thì công đức so
với việc dùng giấy của nước nhà sẽ bị giảm gấp mười. Không thể không biết!
4) Khắc
tượng, in tượng:
Nếu có được
hình tượng Phật, Bồ Tát do các nhà danh họa vẽ thì hãy nên tìm cách lưu truyền
vĩnh viễn. Rộng hành nhiếp hóa thì không gì bằng chế bản ấn loát. Hoặc thỉnh
thợ khéo điêu khắc lên bản gỗ cứng rắn, hoặc khắc vào đá, hoặc chế bản đồng,
bản kẽm và bản pha lê đều tốt cả.
Dạng thức văn phát nguyện
Loại văn
phát nguyện này nên chép vào sau kinh tượng. Cách thức rất nhiều, chẳng thể
thuật trọn. Nay nêu đại lược sáu cách như sau:
1) Tả
kinh:
Ngày…
tháng… năm… đệ tử tên là… kính chép kinh… bao nhiêu bộ. Đem công đức này nguyện
Chấn Đán Trung Quốc[4] và các nước trên
thế giới mưa thuận gió hòa, sung túc, yên ổn, tai nạn tiêu trừ, can qua vĩnh
viễn ngưng dứt, cùng được gội ân Phật giáo hóa, cùng chứng Bồ Đề (Lời chúc
nguyện hoàn toàn có thể tùy ý biến đổi linh động, ở đây chỉ nêu lên một cách
thức mà thôi!)
2) Vẽ
tượng:
Ngày…
tháng… năm… đệ tử tên là… cung kính bỏ chút của cải nhỏ mọn, thỉnh họa sư tên
là… kính vẽ hình tượng Phật… (Bồ Tát…) bao nhiêu bản. Nguyện thân thể con yên
vui, mạnh khỏe, của cải đầy đủ. Đời hiện tại vĩnh viễn lìa khỏi những suy não,
lâm chung vãng sanh Tây Phương. Lại nguyện đem công đức này hồi hướng pháp giới
chúng sanh cùng vượt khỏi bờ mê, đều thành Phật đạo.
3) Khắc kinh:
Ngày… tháng… năm… cư sĩ… (hoặc những danh xưng thích hợp khác)
nhằm sanh nhật bao nhiêu tuổi. Bọn đệ tử chúng con tên là… đều vui mừng, bèn trộm
phỏng theo lệ người xưa chép kinh chúc thọ, kính khắc kinh… và ấn tống bao
nhiêu bộ để mở rộng hoằng nguyện cũng như cầu tăng thêm tuổi thọ. Kính xin Tam
Bảo chứng tri.
4) In kinh:
Ngày… tháng… năm… là sanh nhật của con trai (thứ mấy); đệ tử tên
là… kính thí tiền để ấn tống kinh… bao nhiêu bộ hầu kết pháp duyên. Cùng nguyện
những chúng sanh không con trong pháp giới đều sanh được con trai phước đức trí
huệ, kế tục hưng thạnh gia nghiệp, hoằng tuyên Phật pháp, lợi khắp hữu tình,
dằng dặc tiếp nối mãi đến tận đời vị lai.
5) Khắc tượng:
Ngày… tháng… năm… bọn đệ tử tên là… bỏ tiền chung nhau để khắc
tượng Phật… (hoặc tượng Bồ Tát….) và in ra bao nhiêu bản đó. Chỉ mong chúng con
tội chướng tiêu trừ, phước huệ tăng trưởng, sớm chứng Niệm Phật tam-muội, cùng
sanh về Cực Lạc liên bang phổ độ chúng sanh, cùng viên thành Chủng Trí.
6) In tượng:
Ngày… tháng… năm… đệ tử tên là… kính thí tiền để ấn tống tượng
Phật… (hoặc tượng Bồ Tát…) bao nhiêu bản đó, lại nguyện nhờ công đức này vì mẹ
tên là… (hoặc vì người khác thì bèn đổi danh xưng cho phù hợp) sám trừ những
tội…. Những tội như thế nguyện đều tiêu diệt. Nếu chẳng trừ được thì nguyện xin
chịu thay, khiến cho bệnh khổ trong hiện tại đều mau được yên lành. Nếu đại hạn
khó tránh khỏi thì rốt ráo lên An Dưỡng. Kính xin Tam Bảo chứng minh nhiếp thọ.
Như muốn xem rộng rãi những dạng thức phát nguyện xin hãy xem bộ
Linh Phong Tông Luận. Sách này do chùa Pháp Tạng tại Chuyên Kiều, Đông Hương,
Dương Châu khắc bản, giá hai đồng, đều có gởi bán tại thư cục chánh ở Thượng
Hải, và Phật Kinh Lưu Thông Xứ (nơi phát hành kinh Phật) ở đường Bắc Kinh nơi
Bắc Nê Thành Kiều tại Thượng Hải, Phật Kinh Lưu Thông Xứ thuộc chùa Ngọa Phật
tại Bắc Kinh và những chỗ lưu thông kinh Phật trứ danh khác. Giá khoảng chừng
hai đồng. Quyển đầu bộ sách này toàn chép những nguyện văn, nếu có thể đọc
thông thuộc những nguyện văn ấy thì chẳng những có thể thông thạo cách thức
viết nguyện văn mà còn có thể quán thông nghĩa lý tinh diệu của Phật pháp. Kính
khuyên những bậc có chí chớ nên xem thường. Lại nữa, phát nguyện tuy là chuyện
của chính mình, nhưng phải kèm thêm những lời lẽ “hướng đến trọn khắp chúng
sanh”, có như thế thì nguyện lực trọn khắp, công đức càng lớn lao hơn!
Lúc chép, lúc vẽ nên chú ý:
Lúc chép kinh, vẽ tượng nên dứt rượu thịt, tắm gội, mặc áo sạch,
quét dọn bàn ghế, thắp hương lễ Phật rồi mới nâng bút. Như vậy sẽ đạt được công
đức thù thắng, được đại lợi ích. Vì thế, Ấn Quang pháp sư nói: “Muốn được
lợi ích thật sự nơi Phật pháp thì phải cầu từ nơi cung kính. Có được một phần
cung kính thì tiêu được một phần tội nghiệp, tăng một phần phước huệ”.
Trong Ấn Quang Văn Sao, lại có bài luận Cạn Kiệt Lòng Thành Mới Được Lợi Ích
Thật Sự[5] giảng về điều
này rất tường tận rõ ràng, xin hãy đọc bài ấy. Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao [nói ở
đây] là bản Tăng Quảng do Trung Hoa Thư Cục ở Thượng Hải ấn hành. Phân cục các
nơi đều có, có thể đến thư cục gần nơi mình ở để thỉnh.
Kết luận:
Xem
những điều vừa đã nói trên đây về việc chép vẽ khắc in kinh Phật, tượng Phật,
có những tác dụng thù thắng, mầu nhiệm như thế và có những phương pháp ứng dụng
như thế đó. Vậy chúng ta hãy nên tùy thời tùy sức y theo những phương pháp ấy
hoan hỷ phụng hành. Những người gia cảnh giàu có dư dả, có thể đảm nhiệm việc
khắc in kinh tượng. Nếu chi dùng chẳng dư dật, cũng có thể tự mình sao chép,
chụp ảnh, hay vẽ, và lượng sức mình đến đâu mà thỉnh những kinh tượng đã in
xong để thí lại cho người khác hầu kết thiện duyên, tăng phước huệ. Dù chỉ thí
một bộ kinh, thí một tờ ảnh Phật mà xuất phát từ tấm lòng chí thành khẩn thiết
thì công đức cũng vô lượng. Lại nữa, bất luận nam nữ trẻ già được thấy bài văn
này mà sanh hoan hỷ, hớn hở, dấy tâm chí thành, tâm rộng lớn, tùy thời, tùy
chỗ, hướng về người khác tuyên nói những sự tiêu tai cứu nạn, gieo phước được
lợi ích do lưu truyền kinh Phật, trang nghiêm tượng Phật giống như trên đã nói
để chỉ bảo, hướng dẫn đại chúng chẳng chán, chẳng mệt mỏi. Tuy gặp phải kẻ vô
tri hủy báng, ngăn trở, vẫn chẳng so đo, chẳng nhụt chí, một khối chân thành
hoằng dương đại pháp như vậy giống như vàng ròng thuần túy, càng được nung
luyện qua lửa mạnh màu sắc, vẻ tươi đẹp càng chói ngời. Lòng tinh thành đến
cùng cực thì thiên địa quỷ thần đều bị cảm động. Huống gì những kẻ vô tri, đều
cùng sẵn có thiên lương, trọn chẳng có dịp cảm hóa được ư? Lại nữa, đạo “thích
thành tựu điều tốt đẹp cho người khác, khen ngợi người làm lành”, hết thảy mọi
người đều có thể làm được. Bất luận lúc nào, chỗ nào, hễ thấy hay nghe, có
người ngẫu nhiên phát tâm làm công đức hoằng pháp, chẳng cần biết họ đã làm,
đang làm hay sẽ làm, mỗi mỗi ta đều có lời hoan hỷ tán thành để ôn tồn phủ dụ,
khuyến khích họ, khiến cho tâm hướng thiện của người ấy càng thêm kiên cố, mạnh
mẽ, khiến cho tâm hâm mộ điều thiện của người khác đều cùng sôi nổi. Công đức
vô thượng chẳng tốn một phân tiền này ai nấy đều làm được! Bài văn phổ khuyến
phát tâm làm công đức in tạo kinh tượng này lưu truyền tới đâu bất luận người
thấy kẻ nghe đều tùy theo thuận tiện mà làm. Những kẻ ồn ào đề xướng thuyết
“không có tài lực thì làm được gì” chính là kẻ nói ra những lời tự phụ bạc
mình, ruồng rẫy người, tự lầm, lầm người vậy. Đức Như Lai có tướng lưỡi mỏng,
sạch, rộng, dài, [thè ra] trùm khắp khuôn mặt, đấy chính là tướng lưỡi phước
đức hy hữu, thật sự do công đức vạn kiếp ngàn đời khen ngợi, tùy hỷ mà có.
Người chí thành hoằng pháp tùy thời, tùy chỗ, lựa thời cơ khéo léo chỉ dạy,
phương tiện hay khéo, người siêng năng vận dụng tướng lưỡi rộng dài này, ai dám
bảo là chẳng thể dùng công đức thù thắng mầu nhiệm này để trừ khử tướng tội
nghiệp của chúng sanh, đạt phước vô lượng!
No comments:
Post a Comment